Thursday, October 19, 2017

Hawaii: Con đường trở thành tiểu bang thứ 50 của Mỹ







Ngày 21/8/1959, Tổng thống Dwight D. Eisehnhower ký tuyên bố (Proclamation) công nhận Hawaii, từ một lãnh thổ tự trị thuộc Hoa Kỳ (U.S. territory), chính thức trở thành tiểu bang thứ 50 của Hiệp chúng quốc.
Trong cùng một năm, Hawaii đã nối bước Alaska, trở thành hai “ngôi sao” cuối cùng trên lá cờ Mỹ. Chúng ta hãy tìm hiểu về một quá trình khá thú vị, để xem làm thế nào mà một quần đảo nằm chơi vơi giữa Thái Bình Dương có thể trở thành một tiểu bang chính thức của Hoa Kỳ.
Hoa Kỳ vốn không phải lúc nào cũng muốn có thêm tiểu bang hay các vùng lãnh thổ
Lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ có một chút đặc biệt trong việc hình thành lãnh thổ quốc gia. Đó là từ 13 cựu thuộc địa của Anh quốc lúc bắt đầu thành lập, lãnh thổ Hoa Kỳ đã từng bước mở rộng khi các khu vực tự trị được khai khẩn, hoặc thông qua các cuộc chiến với các quốc gia khác mà giành được quyền cai trị, rồi dần dần tiến đến thiết lập mối quan hệ (incorporated) với chính quyền liên bang.
Sau đó, tiến xa hơn, các khu vực này lại từng bước trở thành các tiểu bang, ví dụ như Khu tự trị Tây Bắc (Northwestern Territory) đã trở thành các bang Ohio, Indiana, Illinois, Michigan, Wisconsin, và một phần của bang Minnesota ngày nay; hay Khu tự trị Dakota (Dakota Territory) chính là hai bang Nam và Bắc Dakota và phần lớn của các bang Wyoming và Montana ngày nay.
Cũng có những phần lãnh thổ là do Hoa Kỳ dùng tiền để mua, ví dụ như Louisiana đã được mua lại từ nước Pháp vào năm 1803. Ngày nay, vùng lãnh thổ này không chỉ có bang Louisiana mà còn bao gồm một phần diện tích của 15 tiểu bang lớn nhỏ khác.
Bản đồ quá trình mở rộng lãnh thổ của Hoa Kỳ. Ảnh: LA Times.
Đó là cách mở rộng lãnh thổ Hoa Kỳ tại Bắc Mỹ, còn đối với các lãnh thổ nằm ở các châu lục khác, tình hình có nhiều khác biệt. Trái với suy nghĩ của nhiều người, không phải lúc nào Hoa Kỳ cũng hăng hái thu nhận các lãnh thổ mới.
Khi các nước châu Âu đã đi đến gần hết giai đoạn mở mang bờ cõi bằng cách thuộc địa hóa các châu lục khác thì Hoa Kỳ mới bắt đầu công cuộc này. Tuy nhiên, đối với việc sáp nhập các lãnh thổ cách quá xa lục địa Bắc Mỹ thì chính người dân Hoa Kỳ có lúc cũng tỏ vẻ không mấy mặn mà cho lắm.
Ví dụ như với trường hợp của quần đảo Philippines. Là phe thắng cuộc trong cuộc chiến với Tây Ban Nha năm 1898, Mỹ được chuyển nhượng quyền sở hữu Philippines – một thuộc địa của Tây Ban Nha.
Thế nhưng, cũng có nhiều người dân Mỹ phản đối việc Philippines trở thành một phần lãnh thổ Hoa Kỳ. Một trong những lý do là vì họ không muốn người “nước ngoài” có đại diện tại Quốc hội Hoa Kỳ. Theo luật, các lãnh thổ thuộc Hoa Kỳ được phép có đại diện tại Quốc hội, nhưng không có quyền bỏ phiếu.
Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha 1898 và trận chiến tại Vịnh Manila, Philippines. Ảnh: Wikiwand
Ngoài ra, còn có một lý do là ngay trước thời điểm chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha nổ ra, người dân Philippines đã bước vào giai đoạn đấu tranh hết sức cam go trong công cuộc giành độc lập từ Tây Ban Nha từ năm 1895 đến năm 1898. Nếu nhận lấy “củ khoai nóng” Philippines thì nước Mỹ có thể phỏng tay khi đối mặt với một cuộc chiến mới.
Quả đúng như thế, công cuộc đấu tranh giành độc lập của người Philippines do Emilio Aguinaldo lãnh đạo vẫn tiếp diễn sau khi quần đảo này bị sang nhượng cho Mỹ. Cuộc chiến Mỹ – Philippines đã khiến cho quân lực Hoa Kỳ bị tổn hại không ít, và các cuộc tranh cãi trong xã hội Mỹ về vấn đề này cũng leo thang theo.
Giằng co vài thập niên, cuối cùng, Hoa Kỳ quyết định sẽ để Philippines phát triển theo hướng trở thành một khối thịnh vượng chung (commonwealth) vào thập niên 1930, với ý định sẽ trao trả độc lập cho đất nước này sau đó. Vì Chiến tranh Thế giới thứ Hai nổ ra nên đến tận năm 1946 việc trao trả độc lập mới chính thức diễn ra.
Trong cùng một hòa ước được ký sau khi thua trận năm 1898, Tây Ban Nha cũng trao cho Hoa Kỳ quyền sở hữu Cuba. Khác với tình hình ở Philippines, chỉ bốn năm sau đó, Tổng thống Hoa Kỳ Theodore Roosevelt đã công nhận Cuba độc lập vào năm 1902.
Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha còn mang đến cho nước Mỹ một số lãnh thổ tự trị mới vào năm 1898, trong đó có đảo Guam và Puerto Rico được nhiều người biết đến. Nhưng đến tận ngày nay, Puerto Rico hay đảo Guam cũng không hề trở thành các tiểu bang, cho dù thời gian sáp nhập và trở thành lãnh thổ của Mỹ cũng suýt soát như Hawaii. Không phải là tiểu bang, thì tuy các công dân ở những nơi này là công dân Mỹ, nhưng họ không có quyền bỏ phiếu trong các cuộc tổng tuyển cử. Và những người này cũng gặp một số giới hạn về quyền di cư đến các tiểu bang Mỹ để làm việc và sinh sống.
Vậy thì lý do nào lại khiến Hawaii có thể trở thành bang thứ 50 của Mỹ?
Có thể nói, cũng chính là do chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha năm 1898 mới khiến cho quần đảo có tên gọi Hawaii có được một sức ảnh hưởng khá quan trọng đối với Mỹ. Vị trí chiến lược về mặt quân sự của Pearl Harbor (Trân Châu Cảng) đã khiến Hawaii đã trở thành lãnh thổ tự trị của Mỹ trong năm 1898.
Tuy nhiên, phải thêm hơn 40 năm nữa, đến sau Thế chiến thứ Hai thì Hawaii mới có đủ sức gắn kết với nước Mỹ để trở thành tiểu bang thứ 50.
Trận Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) năm 1941 đã hoàn toàn thay đổi lịch sử Hawaii. Ảnh: National Geographic.
Lịch sử Hawaii và con đường trở thành một bang của Hoa Kỳ
Hawaii vốn là một quần thể các hòn đảo núi lửa, và cho đến tận ngày nay, vẫn còn các miệng núi lửa đang hoạt động. Người gốc Polynesian đã đến sinh sống tại đây trước tiên, vào khoảng thế kỷ thứ tám. Mãi đến thế kỷ 18 thì những thương buôn Hoa Kỳ mới bắt đầu khám phá ra các hòn đảo này.
Người Mỹ trước tiên phát hiện vùng đất này rất phù hợp với việc trồng gỗ đàn hương, là một sản phẩm bán rất chạy ở Trung Hoa. Vào những năm 1830, mía đường được trồng thử tại đây và đã nhanh chóng trở thành nông sản được trồng nhiều nhất. Đến giữa thế kỷ 19, các đồn điền trồng mía được người Mỹ ồ ạt khai khẩn và con số người Mỹ cư ngụ tại đây cũng tăng theo.
Vì vậy, chính quyền Mỹ cũng bắt đầu phải để mắt đến công dân và tài sản của họ ở Hawaii nhiều hơn. Năm 1840, Mỹ giúp thành lập một chế độ quân chủ lập hiến (constitutional monarchy), nhưng cũng đồng thời xóa bỏ rất nhiều quyền lực của hoàng gia Hawaii. Liên tục trong bốn thập niên tiếp theo, Hawaii và Mỹ đã ký kết nhiều hiệp định thương mại và chính trị.
Vào năm 1887, Hawaii sửa đổi Hiến pháp, cho phép Hoa Kỳ xây dựng căn cứ hải quân tại Trân Châu Cảng. Việc xuất khẩu đường từ Hawaii vào Mỹ cũng theo đó mà tăng lên. Điều này đã khiến cho tầm ảnh hưởng chính trị và xã hội của người Mỹ tại Hawaii cũng tăng theo.
Tuy nhiên, sau khi Vua Kalakaua qua đời và Nữ hoàng Liliuokalani đăng cơ vào năm 1891, tình hình chính trị tại Hawaii có biến đổi. Liliuokalani từ chối công nhận Hiến pháp 1887 và tìm cách gia tăng hoàng quyền.
Tháng 1/1893, Sanford B. Dole, một người Mỹ sinh trưởng tại Hawaii, đã lãnh đạo một cuộc đảo chính lật đổ chế độ cai trị của Liliuokalani để thiết lập một nền cộng hòa.
Đến tháng 2/1893, Mỹ quyết định cấp quy chế bảo hộ cho Hawaii và công nhận Dole là Thống đốc. Dole cũng đệ trình đơn xin được sáp nhập (annexation) Hawaii vào Liên bang Hoa Kỳ trong cùng năm.
Sanford B. Dole (trái) và Nữ hoàng Liliuokalani (phải). Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Một lần nữa, người Mỹ không đồng ý sáp nhập thêm lãnh thổ. Tuy việc sáp nhập được đa số cư dân Hawaii đồng ý, nhưng nó lại bị phản đối ở Quốc hội Mỹ. Dưới sức ép chính trị, Tổng thống Grover Cleveland trong năm 1893 đã gửi Đại sứ mới đến Hawaii để hy vọng có thể thiết lập lại vương quyền cho Nữ hoàng Liliuokalani, với điều kiện là bà ta phải đồng ý tuân thủ Hiến pháp 1887.
Tuy nhiên, Sanford Dole không phải là một người thiếu bản lĩnh chính trị để mặc người điều khiển. Ông đã thẳng thừng từ chối hợp tác với Mỹ, tuyên bố thành lập Cộng hòa Hawaii (Republic of Hawaii) vào cùng năm và trở thành tổng thống đầu tiên. Tổng thống Cleveland lâm vào một tình cảnh khó xử, vì ông không thể điều động quân đội để trấn áp chính quyền của Dole vì ông có cha mẹ là công dân Hoa Kỳ. Do đó, hai bên lâm vào thế giằng co trong vài năm.
Sau khi Tổng thống William McKinley lên nhậm chức, vào năm 1897, Hoa Kỳ và Cộng hòa Hawaii đã ký hòa ước chấm dứt khúc mắc này.
Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha nổ ra vào năm 1898, Mỹ cần sử dụng Trân Châu Cảng như một vị trí mang tính chiến lược về quân sự ở Thái Bình Dương. Và vì vậy, Quốc hội Hoa Kỳ đã đồng ý với đề nghị của Sanford Dole, sáp nhập Hawaii thành một lãnh thổ tự trị của mình.
Lòng kiên trì của Sanford Dole đã chiến thắng. Ngày nay, chúng ta vẫn còn nhìn thấy ông hiện diện đâu đó trong đời sống của người dân Hawaii khi nhìn vào nhãn mác của các quả dứa đến từ sản nghiệp của dòng họ “Dole”.
Đồn điền của dòng họ Dole ngày nay và sản phẩm nổi tiếng dứa hiệu Dole.
Từ năm 1898 đến năm 1941, Hawaii vẫn giữ nguyên tình trạng của một lãnh thổ tự trị. Là một quần đảo cách xa đại lục Bắc Mỹ non 2.500 dặm, Hawaii khó có thể được đa số người Mỹ xem như một phần máu thịt của lãnh thổ quốc gia. Thế nhưng, điều này đã hoàn toàn thay đổi vào ngày 7/12/1941 khi quân đội Nhật tấn công và ném bom Trân Châu Cảng.
Chính những gì xảy ra với Hawaii và các cư dân của họ, cũng như sự hy sinh của những người lính Hoa Kỳ trong Thế chiến thứ Hai tại đây, đã kéo Hawaii lại gần với nước Mỹ hơn bao giờ hết. Liên tục từ năm 1946 đến 1959, các cuộc vận động yêu cầu Quốc hội thông qua đạo luật cho phép Hawaii trở thành một bang của Hoa Kỳ được đưa ra ở nhiều cấp, với nhiều mức độ khác nhau.
Năm 1959, một cuộc trưng cầu dân ý tại Hawaii cho thấy, có hơn 90% dân số ủng hộ phần lãnh thổ này chính thức trở thành một tiểu bang của Hoa Kỳ.
Ngày 18/3/1959, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua Đạo luật Gia nhập (The Act of Admission), đồng ý để Hawaii trở thành một bang của nước này.
Sau khi Tổng thống Eisenhower tuyên bố Hawaii trở thành tiểu bang thứ 50 vào tháng 8/1959, thì vào ngày Lễ Độc lập năm 1960 tại Mỹ, lá cờ hoa đã chính thức có thêm ngôi sao thứ 50.
Tài liệu tham khảo:

Fred Korematsu – người thách thức lệnh giam giữ người Mỹ gốc Nhật trong trại tập trung trong Thế chiến II


Tổng thống Trump và những người ủng hộ sắc lệnh cấm nhập cảnh được ban hành vào ngày 27/1/2017 đã đưa ra một phép so sánh là sắc lệnh này cũng có ý nghĩa tương tự như sắc lệnh hành pháp số 9066 mà Tổng thống Franklin Roosevelt đã từng ban hành trong thập niên 1940.
Nhưng phía sau sắc lệnh 9066 của Tổng thống Franklin Roosevelt còn là một trang sử đau buồn và đen tối nhất của người Mỹ gốc Nhật nói riêng và người Mỹ gốc Á nói chung.
Sắc lệnh hành pháp của Roosevelt đã dẫn đến án lệ nổi tiếng Fred Korematsu kiện Chính phủ Hoa Kỳ, mở đầu cho công cuộc hơn 40 năm đấu tranh cho quyền dân sự của người Mỹ gốc Nhật và gốc Á trong thế kỷ 20.
Trước khi người Hồi giáo bị xem là một thành phần di dân cần phải lưu ý đặc biệt vì có thể gây nguy hiểm cho an ninh quốc gia tại Hoa Kỳ, thì người Mỹ gốc Nhật nói riêng và người Mỹ gốc Á nói chung đã từng là nạn nhân của những phong trào bài xích người di dân với cùng một lý do.

Sau khi Hoa Kỳ tham gia Thế chiến thứ Hai và tuyên bố tình trạng chiến tranh với Nhật Bản, ngày 19/2/1942, Tổng thống Franklin Roosevelt đã ban hành một sắc lệnh hành pháp (executive order) ngăn cấm công dân Mỹ gốc Nhật không được sinh sống ở một số khu vực “quân sự trọng yếu” đối với an ninh quốc gia.
Để thực thi sắc lệnh của Roosevelt, hơn 100 nghìn người Mỹ gốc Nhật dọc bờ biển phía Tây Hoa Kỳ (gồm các bang California, Washington, Oregon cho đến phía nam của bang Arizona) đã bị chính quyền cưỡng chế và phải rời khỏi nơi cư trú, bỏ lại tài sản để vào sống trong các trại tập trung do chính phủ lập ra (internment camps).
Người Mỹ gốc Nhật bị tập trung sinh sống tại các trại do chính phủ lập ra trong Thế chiến thứ Hai. Ảnh: globalresearch.ca.

Tháng 5 năm 1942, Fred Korematsu, một công dân Hoa Kỳ gốc Nhật sinh trưởng tại bang California đã bị bắt và kết án khi ông bất tuân sắc lệnh này và không chịu dọn khỏi căn nhà của mình ở thành phố San Leandro. Hồ sơ vụ án Korematsu được kháng cáo lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, yêu cầu tòa tuyên bố sắc lệnh của Tổng thống Franklin Roosevelt là vi hiến.
Ảnh: Tranh chân dung Fred Korematsu những năm 1940 (National Portrait Gallery).

Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (ACLU) trụ sở tại Bắc California đã nhận lời làm luật sư đại diện cho Fred Korematsu trong hồ sơ ông kiện chính phủ Hoa Kỳ.
Luật sư Ernest Besig, giám đốc điều hành ACLU ở Bắc California và cũng là người đại diện cho Fred Korematsu. Ảnh: ACLUNC.org.

Vào năm 1944, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã đưa ra phán quyết tuyên bố sắc lệnh của Roosevelt ban hành không vi hiến mặc dù tòa thừa nhận sắc lệnh này có sự phân biệt về chủng tộc (racial classification) đối với người Mỹ gốc Nhật. 
Án lệ Korematsu được các học giả môn Luật Hiến pháp Hoa Kỳ đánh giá là một trong những án lệ tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, xếp ngang hàng với các án lệ bảo vệ những đạo luật phân biệt chủng tộc ở miền Nam Hoa Kỳ như Dred Scott kiện Sandford và Plessy kiện Ferguson.
Cho đến nay, vẫn chưa có một phán quyết nào từ Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ lật ngược lại án lệ Korematsu.
Các thẩm phán của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã đưa ra phán quyết trong án lệ Korematsu. Ảnh: supremecourthistory.org.

Những lập luận của phía chính phủ tại tòa dựa trên những lời khai từ các tướng lĩnh quân đội Hoa Kỳ, cho rằng rất khó có thể biết được những người Mỹ gốc Nhật có thật trung thành với nước Mỹ hay họ chỉ biết có nguồn gốc Nhật Bản của mình. Vì thế, chính phủ cần sử dụng biện pháp giam giữ họ ở những trại tập trung để đảm bảo “an ninh quốc gia” trong thời kỳ chiến tranh.
Đứng trước một nước Mỹ đang ở trong tình trạng chiến tranh, 6 trong 9 thẩm phán của Tối cao Pháp viện lúc ấy đã cho rằng những công dân Hoa Kỳ gốc Nhật cần phải “hy sinh” cho tổ quốc. Và những của cải bị mất mát, cũng như tự do cá nhân của họ bị tước đoạt là cần thiết cho sự an toàn của cả nước Mỹ. Do đó, tòa đã tuyên bố sắc lệnh hành chính của Tổng thống Roosevelt không vi hiến.

Một trong 3 thẩm phán Tối cao Pháp viện có ý kiến phản đối sắc lệnh hành chính của Roosevelt, Robert H. Jackson, đã cảnh báo quyết định của tòa trong hồ sơ Korematsu sẽ để lại di hại cho tương lai của Hiến pháp Hoa Kỳ.
Thẩm phán Jackson đã ví von rằng, khi cho phép chính quyền hy sinh quyền lợi hiến định của một nhóm người, một chủng tộc của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ thì cũng đồng nghĩa với việc Tối cao Pháp viện đã trao cho những thế hệ lãnh đạo tương lai một vũ khí sát thương, giúp họ có thể bỏ mặc Hiến pháp Hoa Kỳ và ngang nhiên tước bỏ quyền lợi của bất kỳ sắc dân hay chủng tộc nào mà họ cho là nguy hiểm dưới chiêu bài “bảo đảm an ninh quốc gia”.
Thẩm phán Robert H. Jackson. Ảnh: roberthjackson.org.

Năm 1983, sau hơn 40 năm kể từ khi bị kết án vì vi phạm sắc lệnh hành pháp 9066 của Tổng thống Roosevelt, Fred Korematsu đã được tòa án liên bang khu vực Bắc California tuyên bố vô tội.
Các luật sư của ông đã sử dụng công cụ Writ of Coram Nobis, yêu cầu tòa xem xét những bằng chứng không được đưa vào trong vụ án trước đây. Bao gồm những tài liệu trong cuộc chiến của chính phủ và quân đội Hoa Kỳ được công bố sau này, thừa nhận việc cấm cố người Mỹ gốc Nhật trong các trại tập trung vốn không giúp ích gì cho nước Mỹ trong Thế chiến thứ Hai. Trong tiếng La tinh, Coram Nobis có nghĩa là “sai phạm ngay trước mắt” (error before us).
Trong suốt 40 năm ấy, Korematsu đã là một tiếng nói mạnh mẽ trong việc đấu tranh cho quyền công dân của người Mỹ gốc Á. Ông tiếp tục vận động chính phủ Hoa Kỳ phải thừa nhận những gì người Mỹ gốc Nhật phải gánh chịu trong Thế chiến thứ Hai là bất công và cần phải được xin lỗi.
Fred Korematsu và các luật sư của ông tại tòa năm 1983 khi ông được xóa bản án của 40 năm trước. Ảnh: acaclu-il.org.

Vào năm 1988, Tổng thống Ronald Reagan đã ký và ban hành Đạo luật Tự do Dân sự (Civil Liberties Act of 1988). Theo đó, chính phủ Hoa Kỳ đã chính thức xin lỗi những công dân Mỹ gốc Nhật như Fred Korematsu và đưa ra sự đền bù về vật chất cho những tổn thất mà họ đã gánh chịu trong Thế chiến thứ Hai.
Ảnh: Legal Legacy.

Năm 1998, Tổng thống Bill Clinton đã trao tặng Fred Korematsu Huân chương Tự do cho những đóng góp của ông trong công cuộc đấu tranh cho dân quyền của người Mỹ gốc Nhật và người Mỹ gốc Á Châu. Huân chương Tự do là phần thưởng dân sự cao quý nhất mà Tổng thống Hoa Kỳ trao tặng cho một công dân. Những người từng được nhận Huân chương Tự do gồm có mục sư Martin Luther King, Jr. và gần đây là cựu Phó Tổng thống Joe Biden.
Tổng thống Clintont trao tặng Fred Korematsu Huân chương Tự do. Ảnh: CNN.com.

Fred Korematsu dành những năm cuối đời để đấu tranh chống lại sự kỳ thị người Hồi giáo tại Mỹ, sau khi sự kiện 9/11 xảy ra vào năm 2001. Ông cho biết không muốn nhìn thấy người Hồi giáo phải gặp lại cùng một số phận như ông và phải nếm trải những gì người Mỹ gốc Nhật đã trải qua.
Ông đã ủng hộ các vụ kiện lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ liên quan đến phân biệt đối xử đối với người Hồi giáo ở Mỹ. Trong đó có các án lệ Shafiq Rasul kiện George W. Bush, Khaled A.F. Al Odah kiện Chính phủ Hoa Kỳ, và Donald Rumsfeld kiện Jose Padilla.
Korematsu qua đời tháng 3 năm 2005, trên bia mộ của ông là những dòng rất khiêm tốn nhưng lại rất có ý nghĩa, và có lẽ là rất cần thiết tại Hoa Kỳ ngay lúc này:
“Sinh ra tại thành phố Oakland (ND: bang California), Fred chỉ muốn được đối xử như một người Mỹ. Khi phản kháng lại sắc lệnh tập trung người Mỹ gốc Nhật năm 1942, ông đã kiên cường chống lại sự đối xử bất công mà người Mỹ gốc Á đã phải gánh chịu tại Hoa Kỳ trong Thế chiến thứ 2.
Ông đã thách thức lương tâm của đất nước (Hoa Kỳ) và nhắc nhở chúng ta rằng, các quyền tự do của công dân Mỹ  vẫn phải được đảm bảo ngay cả trong khi chúng ta phải chiến đấu với những kẻ bạo quyền ở nơi khác.
Một vị anh hùng thật sự và là một nhà đấu tranh dân quyền, Fred đã được trao tặng Huân chương Tự do của Tổng thống vào năm 1998.”

Google đã vinh danh Fred Korematsu trong cuối tuần, ngay sau khi sắc lệnh cấm nhập cư của Trump được ban hành.
Ngày sinh nhật của ông, 30 tháng 1 hằng năm, là một ngày được kỷ niệm tại 5 tiểu bang ở Mỹ. Vào năm 2017, trong dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 98 của Fred Korematsu, chính phủ Hoa Kỳ đã ban hành sắc lệnh cấm nhập cư của Tổng thống Trump.
Và án lệ Korematsu kiện Chính phủ Hoa Kỳ một lần nữa được mang ra thảo luận. Liệu rằng trong những ngày sắp tới, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ sẽ lật ngược phán quyết được đưa ra hơn 70 năm trước, hay lại một lần nữa cho rằng chính quyền có thể vi phạm quyền hiến định của một số công dân để bảo vệ “an ninh quốc gia”?
Tài liệu tham khảo:

Nếu Việt Nam Cộng Hòa chiến thắng?

Mỗi dịp 30-4 hàng năm, tôi lại nhận được câu hỏi của những người đồng bào Việt Nam ở hải ngoại là “anh nghĩ và có cảm xúc gì khi sắp tới ngày 30-4?”. Tôi lại có dịp kể cho họ nghe về suy nghĩ và cảm xúc của mình.
Từ nhỏ cho đến năm mười chín tuổi, mỗi dịp 30-4 tôi thực sự vui mừng và tự hào bởi đó là ngày chiến thắng và thống nhất của đất nước. Việt Nam đã chiến thắng cường quốc số một thế giới về quân sự và kinh tế.
Cuối năm 1989, tôi có cơ hội được sang CHDC Đức (cũ) và được chứng kiến người dân Đông Đức lật đổ chế độ cộng sản để thống nhất với chế độ tư bản, dân chủ ở Tây Đức. Tôi lại có dịp may mắn được sang Tây Berlin để xem cuộc sống sung túc và tự do của chế độ tư bản, dân chủ. Và tôi hiểu tại sao người dân Đông Đức đã không cam chịu sống dưới sự cai trị độc đoán, phi lý, lạc hậu của chế độ cộng sản.
Cùng thời điểm đó, tất cả người dân các nước Đông Âu đã vùng lên đập tan sự cai trị của các chế độ cộng sản. Và họ đã xây dựng lại từ đầu chế độ tư bản, dân chủ. Cho đến nay, tất cả các nước Đông Âu, người dân đều có cuộc sống sung túc và hạnh phúc trong một chế độ chính trị tự do và dân chủ mà không có sự cai trị của chế độ cộng sản.
Hoài nghi, nuối tiếc
Cuối năm 1990, tôi trở lại Việt Nam, kể từ đó cứ mỗi dịp 30-4, tôi không còn cảm xúc vui mừng, mà thay vào đó là sự hoài nghi và nuối tiếc.
Năm 2001 và 2003, tôi có dịp được sang thăm Hàn Quốc và thấy đó là một quốc gia hùng mạnh về kinh tế và quân sự. Ở đó không bao giờ có sự hiện diện và tồn tại của đảng cộng sản. Trong khi đó, Bắc Triều Tiên dưới sự cai trị độc đoán và tàn bạo của chế độ cộng sản. Mỗi năm có cả trăm ngàn người chết đói mặc dù họ đã nhận được sự giúp đỡ to lớn từ Hàn Quốc và cộng đồng quốc tế. Tôi cảm thấy buồn và nối tiếc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Nhìn lại Việt Nam chúng ta, sau ngày 30-4-1975, trong chế độ quan liêu bao cấp, ngăn sông cấm chợ, nhân dân phải chịu đói khổ, lầm than. Khi tiến hành công cuộc đổi mới, kinh tế có phát triển, đời sống người dân khấm khá hơn, đủ ăn, đủ mặc, có được phương tiện sinh hoạt và đi lại hiện đại. Nhưng tham nhũng đã trở thành quốc nạn, thành giặc nội xâm của dân tộc. Sự suy thoái đạo đức và lối sống diễn ra một cách toàn diện, trên mọi phương diện của đời sống xã hội từ giáo dục, y tế, ngành tư pháp, cơ quan hành chính,... và trên mọi cấp độ từ trung ương đến địa phương.
Nhiều người trong chúng ta đã từng chứng kiến cảnh doanh nghiệp, quan chức chính quyền, các lực lượng vũ trang và xã hội đen hợp sức với nhau để cưỡng chế người nông dân lấy đi tư liệu sản xuất quan trọng nhất của họ là ruộng đất. Biết bao người dân vô tội khi bước vào đồn công an thì khỏe mạnh, nhưng chỉ ít giờ sau, họ chỉ còn là một cái xác không hồn. Và còn biết bao nhiêu những người dũng cảm đứng lên đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ đã bị sách nhiễu, đánh đập, và bị cầm tù. Thật sự đau lòng và xót xa.
Giờ đây, mọi người lại hỏi tôi “anh nghĩ và có cảm xúc như thế nào về ngày 30-4?”
Tôi trả lời: Một chế độ dân chủ và văn minh đã thua một chế độ độc đảng toàn trị và lạc hậu. Cái ác đã chiến thắng. Còn cảm xúc thì buồn và nuối tiếc cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa, bởi tôi và rất nhiều người đều cho rằng nếu ngày 30-4-1975, bên chiến thắng là Việt Nam Cộng Hòa thì giờ đây trong khu vực châu Á, Việt Nam có thể chỉ thua duy nhất Nhật Bản về kinh tế, còn chắc chắn sẽ ngang bằng hoặc hơn Hàn Quốc về cả kinh tế và quân sự.
Bài phản ánh quan điểm và văn phong của riêng tác giả, một luật sư bất đồng chính kiến sống tại Hà Nội.

15 CÁCH ĂN VÀ CHẾ BIẾN TRỨNG GÀ VÔ CÙNG NGUY HẠI

1. Ăn trứng gà sống hoặc chưa nấu chín(lòng đào)
Trứng gà sống chứa các protein có kết cấu hóa học chặt chẽ mà cơ thể không thể hấp thu được, đồng thời còn gây ức chế cho trung khu thần kinh, giảm chức năng của tuyến nước bọt, dịch vị dạ dày và dịch vị của ruột. Những điều này làm bạn vừa ăn không ngon vừa tiêu hóa kém.
Trứng gà chưa nấu chín lại chứa 2 hợp chất khó phân giải cùng một số lượng đáng kể những vi khuẩn chưa bị tiêu diệt khiến cơ thể vừa không thể hấp thụ protein có trong trứng vừa gây ra chứng khó tiêu, dễ dẫn đến bệnh tiêu chảy.
2. Ăn trứng gà luộc quá chín/ lâu
Bestie trung chin ky
Trứng chín quá kỹ sẽ có màu xanh xám như thế này.
Khi luộc quá lâu, bề mặt lòng đỏ trứng gà sẽ xuất hiện một lớp màu xanh xám. Đây là kết quả do chất sắt có trong trứng gà tạo ra, cơ thể cũng rất khó hấp thu chất này. Ngoài ra, trứng gà nếu luộc chín quá kỹ thì vị tươi ngon cũng kém đi làm bạn không còn dùng ngon miệng nữa.
3. Ăn trứng gà đã để qua một đêm
Trứng gà luộc chín lòng đào đã để qua một đêm thì vi khuẩn sẽ sản sinh từ các chất dinh dưỡng, khiến trứng bị biến chất. Nếu bạn ăn thì chẳng hấp thu được bao nhiêu chất dinh dưỡng mà còn gây nguy hại đối với sức khỏe.
4. Ăn trứng gà cùng đậu tương
Nếu bạn đang có thói quen ăn trứng gà và uống sữa đậu nành cùng lúc trong bữa sáng thì hãy dừng lại, bởi vì men phân giải protein trong đậu tương sẽ khiến cơ thể bạn không thể hấp thu được các giá trị dinh dưỡng có trong trứng gà.
7 thực phẩm ăn cùng trứng gà vô cùng nguy hiểm 3
Không nên vừa ăn trứng gà vừa uống sữa đậu nành.
5. Ăn trứng gà cùng thịt thỏ
7 thực phẩm ăn cùng trứng gà vô cùng nguy hiểm 4Hai loại thực phẩm này không nên kết hợp với nhau vì sẽ khiến dạ dày bị kích thích dẫn đến tiêu chảy.
6. Ăn trứng gà cùng quả hồng                      7 thực phẩm ăn cùng trứng gà vô cùng nguy hiểm 2
Nếu sau khi ăn trứng gà mà bạn dùng ngay quả hồng thì sẽ dễ dẫn đến ngộ độc thực phẩm, viêm dạ dày và viêm ruột cấp tính.
7. Nấu trứng gà với đường
Khi chế biến trứng gà, bạn cho thêm đường ở nhiệt độ cao thì sẽ sản sinh ra một hợp chất “tiêu diệt” các axit amin có lợi chơ cơ thể và làm máu đông. Chính vì thế, ăn món trứng gà có thêm đường sẽ tạo thành mối nguy hiểm tiềm tàng, dùng thường xuyên sẽ khiến máu trong cơ thể bạn dễ bị đông đặc.
8. Nấu trứng gà với mì chính
Trứng gà được chế biến ở nhiệt độ cao sẽ tạo nên vị tươi ngon đặc trưng nhờ hàm lượng natri clorua và amoniac cao có trong trứng. Tuy nhiên, cho thêm mì chính vào trong quá trình nấu, bạn sẽ là giảm hẳn chất dinh dưỡng lẫn hương vị của món trứng.
Bestie bot ngot
Đừng nêm mì chính vào món trứng.
9. Trứng gà luộc chín xong ngâm trong nước lạnh 
Thông thường, sau khi luộc trứng, đại đa số chúng ta có thói quen ngâm trứng gà vào nước lạnh để mau nguội và dễ lột vỏ. Các chuyên gia y tế khẳng định rằng đây là cách làm hoàn toàn không đảm bảo vệ sinh. Bởi lẽ, trứng gà tươi vốn có một lớp màng ở bên ngoài để ngăn chặn sự xâm nhập bất hợp pháp của các vi sinh vật có hại.
10. Ăn trứng gà cùng thịt ngỗng. Trứng gà còn không được ăn kèm các loại thịt ngỗng, thịt thỏ. Trong quyển “Bản thảo cương mục” Lý Thời Trân có viết: “Trứng gà ăn cùng thịt thỏ sẽ bị tiêu chảy". Đó là vì thịt thỏ có vị ngọt hàn chua lạnh, trứng gà ngọt bình hơi hàn. Hai loại thực phẩm này đều chứa hoạt tính sinh vật nhất định, nếu ăn chung sẽ gây phản ứng kích thích lên hệ tiêu hóa, dẫn đến tiêu chảy. Do đó không nên ăn chung hai loại thực phẩm này với nhau.
7 thực phẩm ăn cùng trứng gà vô cùng nguy hiểm 5   
11. Ăn trứng gà cùng thịt Ba ba. Trứng gà có rất nhiều điều cấm kỵ. Ăn thịt ba ba sau khi ăn trứng gà sẽ bị ngộ độc. Thịt ba ba có vị ngọt, người bị cảm hoặc mệt mỏi càng không nên ăn. Ngoài ra, ba ba còn có tính bình, phụ nữ mang thai, hoặc vừa sinh con không nên ăn.
12. Ăn trứng gà rồi uống Thuốc chống viêm. Trứng gà rất giàu protein, khi bị viêm đặc biệt chú ý đến việc hấp thụ protein. Cho nên, khi bị viêm tuyệt đối không nên uống thuốc khi vừa ăn trứng gà xong. Đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hóa, triệu chứng tiêu chảy, càng không được ăn trứng gà. Vì trứng gà chứa nhiều protein sẽ tăng gánh nặng cho hệ tiêu hóa, ảnh hưởng đến công hiệu của thuốc, đặc biệt là bệnh đại tiện phân mỡ (coeliac). Một số bệnh viêm khác như viêm đường hô hấp, viêm đường tiết niệu, không có ảnh hưởng lớn đến quá trình hấp thụ thuốc (xét ở góc độ Tây y).
7 thực phẩm ăn cùng trứng gà vô cùng nguy hiểm 7   
13. Ăn trứng gà rồi uống Trà. Rất nhiều người thích uống trà sau khi ăn trứng để đỡ ngấy. Đặc biệt là những người thích uống trà vào buổi sáng. Nhưng lúc này, nếu chẳng may ăn trứng gà sẽ rất có hại đến sức khỏe. Vì trong lá trà có chứa rất nhiều axit tannic. Loại axit này kết hợp với protein trong trứng gà tạo thành hợp chất protein axit tannic làm chậm hoạt động của nhu động ruột, kéo dài thời gian trữ phân trong ruột, gây táo bón. Hơn nữa, còn có khả năng hấp thụ các chất độc hại, chất gây thư có hại đến sức khỏe.
14. Chiên trứng gà ở nhiệt độ quá cao
“Chiên ở nhiệt độ cao sẽ khiến các vitamin trong trứng mất đi. Vì vậy, chị em nội trợ nên chiên trứng để lửa nhỏ và rán đủ lâu để lòng đỏ chín tới", bác sĩ Linh hướng dẫn cách chiên trứng.

15.Ăn bao nhiêu trứng trong một tuần là đủ

Trứng gà có giá trị dinh dưỡng rất cao. Ăn trứng giúp tăng cường trí nhớ, chống lão hóa, tăng cường độ dẻo dai cho cơ bắp và ngăn ngừa loãng xương. Bên cạnh đó, trứng gà hỗ trợ hoạt động của gan, hạn chế nguy cơ tắc nghẽn động mạch. Do đó, con người cần phải tích cực bổ sung trứng gà vào khẩu phẩn ăn. Nhưng, ăn quá nhiều sẽ gây ra thừa lượng chất chất dinh dưỡng, béo phì…
“Người lớn bình thường nên ăn từ 3-4 trái trứng gà/tuần. Đối với trẻ em dưới 6 tuổi, chúng có thể ăn nhiều hơn, khoảng từ 5-10 trái/tuần bởi cholesteron có tác dụng phát triển trí não ở lứa tuổi này. Riêng người tập gym, muốn tăng cơ có thể ăn nhiều trứng gà, nhất là lòng trắng”, bác sĩ Thuận Linh nói.