Thursday, April 26, 2018

Bài viết hay(6439)

NGUYỄN VĂN VĨNH - NHÀ BÁO hay DỊCH GIẢ?

Quá khứ lịch sử chỉ có thể trở nên trung thực khi không bị chi phối, cản trở của ý thức hệ tư tưởng chính trị dù ở bất cứ thời đại nào. Điều này, nhiều người quan tâm đến nền lịch sử văn hóa xã hội đều biết.

Như đã được nhấn mạnh từ những bài trình bày trước đây về Nguyễn Văn Vĩnh, việc các chế độ chính trị luôn tỏ ra “ái ngại” khi bàn về Nguyễn Văn Vĩnh, là nguyên nhân đầu tiên dẫn hậu thế đến sự nhận thức mơ hồ về một nhân vật lịch sử có sự nghiệp đồ sộ, khác thường như ông. Từ nhận thức mơ hồ đến ngờ vực, cách nhau đúng một sợi tóc!

Tôi làm công việc sưu tập tư liệu về sự nghiệp, con người và gia đình Nguyễn Văn Vĩnh, đã phải chứng kiến không ít những quan điểm, lời lẽ và cả thái độ vô văn hóa của chính những kẻ nhân danh văn hóa nói về Nguyễn Văn Vĩnh. Có thể xác định được, những chuyện đó ‘không khó hiểu’, bởi vì họ cố ý như vậy.

Tuy nhiên, ở mặt tích cực, đó là động cơ đẩy những người thực sự có ý thức đối với công việc mình theo đuổi, tiếp tục lao động, tìm kiếm cứ liệu và chứng minh cho những kẻ có hiểu biết thiển cận về Nguyễn Văn Vĩnh, rằng họ mang trong đầu một loại tư tưởng bệnh hoạn, bị chi phối bởi lợi ích tư tưởng “phe phái” cực đoan!

Với chúng tôi, sự phản biện của dư luận xã hội, là gương soi, giúp tôi và chúng tôi nhìn rõ những vết nhọ (nếu có) trên mặt mình, để qua đó, hoặc lau rửa, hoặc biết rõ tâm địa của những kẻ nêu ý kiến ngược chiều. Cho nên, vẫn nhìn ở góc tích cực, dù gì chúng tôi vẫn cảm ơn họ, những kẻ tìm cách ‘hạ thấp’ những giá trị mà Nguyễn Văn Vĩnh để lại, cũng như những gì chúng tôi đã làm.

Nguyên tố Uranium (U) tạo thành Plutonium (P) khi được làm giàu, rồi trở thành thành phần chính của năng lượng hạt nhân nguyên tử.

Qua những cuộc ‘va đập’ về đề tài Nguyễn Văn Vĩnh, chúng tôi đã nhận được rất nhiều sự chia sẻ, sự đồng cảm và thiện chí của những người quan tâm. Họ đã cung cấp, gửi tặng, kể cả vô tình “cho” chúng tôi rất nhiều những tư liệu cực kỳ có giá trị về Nguyễn Văn Vĩnh, về văn hóa lịch sử, về quá khứ.

Họ không chỉ an ủi, động viên chúng tôi, mà họ còn muốn góp mặt chứng minh sự dối trá dại dột của những kẻ muốn lấy tay che khuất Mặt Trời, chà đạp sự thật và bóp méo quá khứ của Nguyễn Văn Vĩnh.

Khi nắm bắt được tư liệu cụ thể, nguồn gốc rõ ràng và chính xác, chúng tôi đối chiếu, so sánh với những gì mình có, và xin trình bày, chia sẻ với các quý vị và các bạn, hi vọng chúng ta cùng mở rộng thêm hiểu biết, thông qua những tư liệu mà chúng tôi chắt lọc từ các nguồn khác nhau, với những ý định khác nhau, của những người khác nhau quan tâm đến đề tài Nguyễn Văn Vĩnh, nhân ngày giỗ thiêng liêng lần thứ 82 của ông:



Tác phẩm KHẾ ƯỚC XÃ HỘI của Jean Jacques Rousseau (Giăng Giăắc Rutxô) được xuất bản lần đầu tiên năm 1762 bằng tiếng Pháp. Nội dung là một loại sách triết học, nói về trật tự xã hội chính trị phương Tây

Nguyễn Văn Vĩnh là nhà dịch thuật, trước khi trở thành nhà báo!

Nguyễn Văn Vĩnh quyết trở thành một nhà báo chân chính của dân tộc mình, của nền văn hóa chữ Quốc ngữ non trẻ đầu thế kỷ 20, nên ông ‘vô tình’ trở thành nhà ngôn ngữ. Mục tiêu phấn đấu của ông, là đưa chữ viết của dân tộc Việt được La tinh hóa, trở thành chữ viết phổ thông, chứng minh tính độc lập, không lệ thuộc về văn hóa với các nước lớn luôn tìm cách đồng hóa đất nước và người dân An Nam.

Đây, lời tâm sự của Nguyễn Văn Vĩnh khi nhìn lại cuộc đời lao động của mình vào cái năm cuối cùng của kiếp người với một đồng nghiệp, là chủ một tờ báo ở Hà Nội năm 1935(1):

“…Nhưng từ trước đến giờ, ông Vĩnh vẫn một lòng tin-cạy ở sự tiến-bộ của quốc-văn. Hỏi ông về sự vun-đắp cho quốc-văn thành một thứ văn minh-bạch và chính-xác như pháp-văn, ông đáp:

Có thể được lắm…

Miễn là…?

Miễn là người ta dùng nó. Phải làm thế nào cho rất nhiều người biết chữ quốc-ngữ, dùng quốc-ngữ, đọc báo và sách quốc-ngữ mới được”.

Trong phần tâm sự của người đồng nghiệp với Nguyễn Văn Vĩnh về nguồn cơn của việc dịch những tác phẩm kinh điển của nền văn minh nhân loại ra chữ Quốc ngữ, có hẳn một đoạn bộc bạch vừa chân thành, vừa ngộ nghĩnh của ông:

“ Chiều ý cụ(2), tôi liền dịch một quyển Pháp-sử ra quốc-ngữ để đọc cho cụ nghe. Cái ý-kiến dịch sách tây của tôi nảy ra từ đó, nhất là từ năm 1899 và 1900, khi mới có 17, 18 tuổi tôi cả gan dịch Contrat social của J.J. Rousseau (Khế ước xã hội-Còn được gọi là Dân ước. B/t) và Esprit dé lois của Montesquieu (Tinh thần Pháp luật. B/t), được ông Nguyễn dực Văn, ký-lục, bạn đồng tòa của tôi ở Bắc-Ninh khuyến-khích. Ông Văn đọc những sách ấy ở các sách Dân-ước và Vạn-pháp tinh-lý hay Pháp-ý của Tàu dịch ở sách tây ra, rồi đem so-sánh hai bản dịch thì thấy bản dịch của tôi cũng đúng. Tuy vậy, thấy chỗ nào đáng ngờ, hai chúng tôi lại đem ra bàn-bạc với nhau, cái trí phê-bình của tôi phát ra từ độ ấy. Tôi lại dịch cả tập thứ nhất cuốn Traité de l’Esprit (Hiệp ước Thánh linh. B/t) của Helvétius nữa. Hồi ấy nhằm vào năm 1905”.




Cuốn sách TINH THẦN PHÁP LUẬT của Montesquieu (Môngteskiơ) xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp năm 1748 và ẩn danh. Năm 1750 cuốn sách được xuất bản bằng tiếng Anh và bị nhà thờ công giáo liệt vào loại sách cấm. Cuốn sách Tinh thần pháp luật được ví von là 1 trong những cuốn sách gối đầu giường của dân luật.

Như vậy, với một đoạn tâm sự được ghi chép lại, chúng ta tin rằng, Nguyễn Văn Vĩnh đã can dự với việc dịch thuật từ khi còn rất trẻ. Nhận định của chúng tôi như đã từng nói, rằng chính nhờ việc nắm bắt được tiếng Pháp một cách triệt để, ông hiểu được những nội dung chứa đầy tính uyên bác của các tác phẩm rơi vào tay mình. Vì nhận thức được, cộng với sự khích lệ của những người đàn anh có tri thức, đã dẫn ông đến con đường vận chuyển những kiến thức tiến bộ đó, đầu tiên dành cho những người gần gũi, rồi sau đó mới là dành cho cộng đồng.

Nguyễn Văn Vĩnh bị ám ảnh sâu sắc, rằng làm sao để có thể chuyển tải những tư tưởng tiến bộ trong các tác phẩm mà ông đọc đó, đến được với xã hội, khi những người đồng bào của ông còn chưa có một loại chữ viết phổ thông?! Vậy là thiếu phương tiện vận chuyển.

Mường tượng ra một loại phương tiện cần thiết cho mục đích của mình, thông qua những phản ứng xã hội mà Nguyễn Văn Vĩnh nhận được sau khi can dự vào việc viết bài, và được báo chí của kẻ cai trị mình chú ý, ông đã nhận ra tính tích cực của báo chí truyền thông, một thứ sản phẩm hoàn toàn tiến bộ của nhân loại, nhưng với người dân của ông, đó là sự xa lạ.

Để xác định chắc chắn, rằng Nguyễn Văn Vĩnh đã được biết thế nào là nghề báo, mời các quý vị và các bạn đọc tiếp một đoạn tâm sự của ông:

Bài báo tây thứ nhất của tôi, viết vào năm 1905, đăng trong báo “Courrier d’Haiphong” (Tin tức Hải Phòng. B/t). Bài ấy để đáp lại một bài của ông De Monpezat bàn về cái chánh-sách biệt-hóa mà hiệp-lực (politique d’association). Nhân bài ấy mà dư-luận người Pháp chú-ý đến tôi(3)”.

Thực tế cho thấy, cứ liệu lịch sử, chứng cứ lịch sử, văn bản ghi chép của những người cùng thời với nhân vật lịch sử, không phải hoàn toàn lúc nào cũng là đúng tuyệt đối (thiết nghĩ, điều này cũng không nằm ngoài thuyết Tương đối của Anhxtanh), xong về căn bản, nếu trong chuỗi bằng chứng để chứng minh một việc quan trọng, mà có đôi ba chi tiết phụ, không thực đúng với quá khứ, cũng không có nghĩa là chuỗi bằng chứng đó không có giá trị.

Chúng ta đã từng được đọc cái tâm sự của Nguyễn Văn Vĩnh khi được chứng kiến lần đầu tiên, ông được biết thế nào là công nghệ in báo, lúc ông mới 24 tuổi. Ngày 5/6/1906, ông đã say xưa viết thư từ Đấu xảo Marseille về cho người em trai là Nguyễn Văn Thọ, và người bạn thân là Phạm Duy Tốn ở Hà Nội, để qua đó thấy những điểm nhấn quan trọng liên quan đến ước vọng làm báo của ông. Việc chứng kiến này của Nguyễn Văn Vĩnh như một cú sét, đánh vào tâm khảm của ông, và trùng với ý đồ ông đang lần mò tìm kiếm cái phương tiện để ‘vận chuyển’ kiến thức qua con chữ đến đồng bào của mình, điều mà ông đã trung thành theo đuổi cả cuộc đời:

Cuộc đi thăm lý thú nhất của tôi trong Đấu xảo là cuộc đi thăm gian báo “Petit Marseillais”. Tòa báo có những tài liệu xác thực nhất, lý thú nhất về nghề in từ khi nghề đó bắt đầu phát triển - hay nói cho đúng từ khi nghề đó được nhập cảng vào châu Âu. Một cái makets về Guttenberg đứng trong cái nhà in thứ nhất của ông ta…”

Nguyễn Văn Vĩnh còn tường thuật những điều tai nghe mắt thấy trong bức thư ông viết cho hai người, mà theo ông là thân thiết nhất lúc bấy giờ, về thế nào là công nghệ in ấn, cơ sở để xuất bản một tờ báo, và ông tả lại:

Trong một buồng riêng, có bày những máy móc tối tân nói cho ta cái quan niệm của sự cố gắng khổng lồ trong ba thế kỷ. Ai đã từng trông thấy một người thợ xếp chữ, tìm từng chữ một xếp với nhau, buộc thành bát rồi cho vào khuôn, ai đã từng thấy thế mà cho nhìn vào chỗ này thì sẽ phải ngạc nhiên vô cùng. Không cần xếp chữ, không cần buộc, không cần lên khuôn gì cả. Một người chỉ cần điều khiển một cái cần như kiểu đánh máy chữ, trong vài tiếng đồng hồ là có một tờ báo in xong”

Ở đoạn thư tiếp theo, Nguyễn Văn Vĩnh còn ‘tường thuật’ chi tiết hơn. Nhưng câu kết mà Nguyễn Văn Vĩnh dành cho đoạn thư này, mới thấy cái sự ngạc nhiên ngộ nghĩ của một người ‘nhà quê’ khi đứng trước sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, điều mà hôm nay, những người công nhân trong các xưởng in không thể thấy lạ khi máy in xong, đương nhiên là phải được tự động gấp lại theo khuôn khổ của kích thước một tờ báo:

Tôi còn có dịp nói với anh về cái in báo xong lại gấp luôn lại như tờ “Petit Marseillais”…

29 năm sau, vẫn trong bài tâm sự với người đồng nghiệp nói ở phần đầu, ông đã không quên những gì đã diễn ra trong quá khứ, mà ông còn chi tiết hơn, tổng hợp hơn về cái dấu ấn đã diễn ra như thế nào, cái nhân duyên đã đưa ông đến việc nhận lấy cái sứ mạng của một kẻ làm báo, viết báo và in báo ra sao:

Năm 1906, tôi được cử vào phái-bộ sang dự cuộc Đấu-xảo (Hội chợ triển lãm. B/t) Marseille. Dan hàng của Bắc-kỳ dựng ở liền dan-hàng của báo Le Petit Marseillais. Ông chủ tờ báo ấy hiện giờ còn sống, muốn làm quảng-cáo cho báo mình, đã khuân cả cái tòa báo vào trong trường Đấu-xảo; xưởng máy, tòa soạn, tòa trị-sự, đủ cả. Hàng ngày, tôi thấy cái cảnh hoạt-động trong tòa báo ấy mà thèm: máy chạy ầm-ầm, phóng viên đi lấy tin tới-tấp. Tôi thấy như tôi đâm mê về cái nghề làm báo. Cả ngày tôi sang lân-la hỏi hết cái này đến cái nọ. Ông chủ báo ôn-tồn giảng giải cho tôi rất tử-tế. Tháng Février (tháng Hai. B/t) năm 1907, tôi về nước, đem chuyện làm báo nói với ông Đỗ-Thận ông này khi ấy đang làm cho ông Schneider, chủ nhà in”… 



Chúng ta đã hình dung phần nào những diễn biến về con đường lập nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh theo thứ tự thời gian, do chính ông hệ thống lại và được thông qua những di cảo không phải chỉ do ông viết ra, mà còn được các đồng nghiệp cùng thời nhắc lại bằng giấy trắng mực đen.




Ngày 6/4/2018, nhân ngày giỗ lần thứ 82 của ông nội, bốn người cháu nội đã đến chân cầu Sê Băng Hiêng (sông Sê Pôn), nơi người dân địa phương tìm thấy xác Nguyễn Văn Vĩnh lênh đênh trên một con thuyền độc mộc, một thân một mình, một tay vẫn cầm bút, và tay kia là quyển sổ. Bốn người cháu nội đến nơi linh thiêng này để kính báo với vong hồn ông nội việc Nhà Xuất bản Phụ nữ vừa cho ra mắt cuốn NHỜI ĐÀN BÀ. (Từ phải sang trái: Nguyễn Lân Ngọc, Nguyễn Lân Khôi, Nguyễn Lân Thắng, Nguyễn Lân Bình và một người bạn).

Việc bàn luận của hậu thế hẳn sẽ còn dài, xong dài hay ngắn không quan trọng, mà quan trọng là sự thật lịch sử. Nguyễn Văn Vĩnh chưa bao giờ mong đợi bất kỳ một sự vinh danh nào, đúng như ông từng bộc bạch khi vua Khải Định muốn ban tặng ông Kim khánh (1919), ông đã từ chối mà rằng: “Tôi xin giữ cho cái ngực tôi được trinh!”.

Để rồi, chẳng vô cớ, khi ông nằm xuống mãi mãi, nhà yêu nước nổi danh của lịch sử Việt Nam Phan Bội Châu, đã phải thốt lên trong bài điếu của mình viết bằng cả Quốc ngữ, cả Hán văn gửi đến đám tang Nguyễn Văn Vĩnh. Trong phần Hán văn có câu:

“…Kim khánh bất tằng huyền, khởi hữu như kim sơn, năng đoạt ngã tài nhân dĩ khứ…”
Kim khánh chửa từng đeo, há có như núi vàng mà cướp người tài mang đi mất(4).Nguyễn Lân Bình
__________

Ghi chú:

(1) Tuần báo TIN VĂN, Giám đốc Nguyễn Đức Phong, Chủ nhiệm Thái Phỉ. Số đầu tiên ra ngày 28/7/1935, số cuối cùng 28/11/1936 tại Hà Nội.
(2) ‘Cụ’ là thầy đồ chữ Hán Phan Hữu Đại, người Nguyễn Văn Vĩnh sùng kính.
(3) Bài báo này, lần đầu tiên Nguyễn Văn Vĩnh dùng bút danh Tân Nam Tử.
(4) Người dịch: Phó giáo sư, tiến sĩ Trần Thị Băng Thanh.
Nguồn: http://www.tannamtu.com/?p=3640

Thêm những dấu hiệu cạn kiệt ngân sách

Vietnam - Cali Today news - Ngân sách Việt Nam - được Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) xếp vào nhóm cuối về mức độ minh bạch - vừa phát lộ thêm những dấu hiệu của tình trạng cạn kiệt.

Báo Người Lao Động cho biết cán bộ, nhân viên của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ đang “dài cổ” chờ lương, gần đây, cán bộ, nhân viên của ban này lãnh lương 2 tháng/lần. Đến ngày 31-3 vừa qua, họ mới nhận được lương của tháng 2 và tháng 3, còn lương tháng 4 tới nay vẫn chưa ai nhận.

Cùng với các ban chỉ đạo Tây Bắc và Tây Nguyên, Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ là cơ quan phải giải thể tại Hội nghị Trung ương 6 của đảng cầm quyền tổ chức vào tháng 10/2017. Ngoài lý do chính được thông báo là “tinh gọn bộ máy và tinh giản biên chế”, còn một lý do khác đầy “tế nhị” mà không thể công bố: thông thường, việc “cải tổ” bộ máy, hoặc cho “nở thêm”, hoặc cho “lõm vào” là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để làm công tác nhân sự, mà cụ thể là “thay máu cán bộ lãnh đạo”.

Trong khi đó theo báo Pháp luật TP.HCM, tại xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, trưởng công an xã Thiên Lộc là ông Lê Anh Thắng đã làm đơn xin nghỉ việc để đi xuất khẩu lao động. Ông Thắng tốt nghiệp trung cấp an ninh, được bổ nhiệm trưởng công an xã vào tháng 3-2017, vào biên chế hệ số lương chưa được 3 triệu đồng/tháng. Trong đơn, ông Thắng nêu lý do vì thu nhập không đảm bảo cuộc sống gia đình cho nên xin nghỉ việc để đi làm ăn kinh tế, kiếm kế sinh nhai, đảm bảo cuộc sống.

Sẽ có nhiều công an của lực lượng “còn Đảng còn mình” phải kiếm cách đi xuất khẩu lao động để “mở rộng tương lai”?


Ảnh: Hướng Nghiệp 24

Hai câu chuyện mang tính vi mô trên lại xảy trong bối cảnh một câu chuyện vĩ mô đang gây phản ứng dữ dội trong dư luận xã hội:
Bộ Tài chính của Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng - một “đầu sai” của Đảng dùng riêng cho nhiệm vụ “thu cùng diệt tận giai đoạn cuối” - đang vội vã xây dựng Luật Thuế tài sản, dự kiến đánh thuế đối với nhà, đất ở, tàu bay, du thuyền, ô tô có giá trị 1,5 tỷ đồng trở lên. Tiếp theo kế hoạch nâng thuế VAT (giá trị gia tăng) từ 10% lên 12% hiện ra vào năm 2017, âm mưu đánh thuế tài sản đã khiến lộ ra tình trạng ngân sách năm 2018 tiếp tục bội chi lớn, hụt thu đáng kể và chẳng biết tương lai đi về đâu.

Cần nhìn lại. 2017 là năm đầu tiên mà ngân sách bị hụt thu đến hơn 3% so với dự toán đầu năm, nếu không tính đến khoản “bán mình” - tức 110.000 tỷ đồng thu được từ bán vốn nhà nước tại Sabeco (Tổng công ty Rượu bia - nước giải khát).
Kết quả thu ngân sách chỉ đạt 96,8% dự toán của năm 2017 là một chỉ dấu lớn cho thấy thu ngân sách 2018 sẽ có thể còn tồi tệ hơn, nếu không tính tới phần “bán mình”.

Kết quả 96,8% thu ngân sách trên không những không được xem là thành tích mà còn bị coi là một thất bại, bởi đây là lần đầu tiên sau nhiều năm, thu ngân sách quốc gia không đạt so với dự toán. Cũng là năm thứ ba liên tiếp, thu ngân sách từ khối trung ương không đạt dự toán.

Hẳn đó là nguồn cơn sâu xa khiến chính thể độc đảng ở Việt Nam phải hoảng hồn trước cơn ác mộng ngân sách cho đội ngũ “còn Đảng còn mình”.

Trong khi đó, một cơn ác mộng khác đang xảy đến: một nguồn thu lớn của ngân sách Việt Nam là dầu khí thì lại bị “đồng chí tốt” Trung Quốc siết bức. Trong hai năm 2017 và 2018, lần lượt hai mỏ dầu khí Cá Rồng Đỏ và Cá Voi Xanh đã bị Bắc Kinh gây sức ép khiến Bộ Chính trị Hà Nội phải “cắm mặt” rút giàn khoan thăm dò mà không dám có phản ứng gì.

Bi kịch ngân sách đã lan tới cả lực lượng “còn Đảng còn mình”, hay “thanh kiếm và lá chắn” như ngành công an.

Vào năm 2017, có ít nhất 60 trường hợp công an xã, công an ấp nghỉ việc để ra ngoài làm công nhân, bảo vệ, phụ việc nhà giúp gia đình.

Tuy báo chí nhà nước ít khi đưa tin, hoặc hạn chế thông tin về sự thật chưa từng có trên, song tình trạng công an xã và trên cấp xã nghỉ việc không chỉ xảy ra ở Bà Rịa - Vũng Tàu mà còn là hiện tượng khá phổ biến ở nhiều tỉnh và kể cả thành phố khác.

Một con số từ công an Bà Rịa - Vũng Tàu đã chứng thực cho tình trạng khốn khó của công an xã: mức phụ cấp của giới này đã rớt xuống chỉ còn 1,6 - 1,7 triệu đồng/người/tháng, tức giảm đến phân nửa so với những năm trước.

Nhưng đến lúc này, thân phận “ra đường” không chỉ là công an viên cấp phường xã, mà đã lên đến cấp tướng của các tổng cục và cục nghiệp vụ thuộc Bộ Công an.

Đầu tháng Tư năm 2018, Đề án 106 của Đảng ủy Công an Trung ương về “một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” đã chính thức được thông qua bởi một nghị quyết của Bộ Chính trị - cơ quan tối cao của đảng cầm quyền ở Việt Nam. Theo đó, bộ máy này sẽ giảm triệt để tầng nấc trung gian trong lực lượng mà cao nhất là sẽ không còn cấp tổng cục nữa. Về bộ máy, từ 126 đơn vị cấp cục và tương đương sẽ giải thể, sáp nhập chỉ còn khoảng 60, tức giảm hơn phân nửa.

Ngay trước mắt, việc xóa bỏ các tổng cục sẽ làm mất ghế của rất nhiều tướng thuộc các cơ quan sau: Tổng cục An ninh (Tổng cục I), Tổng cục Cảnh sát (Tổng cục II), Tổng cục Chính trị (Tổng cục III), Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật (Tổng cục IV), Tổng cục Tình báo (Tổng cục V), Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp (Tổng cục VIII).

Hệ lụy của ngân sách tồi tệ rõ ràng đang gây tác động tiêu cực ngay với giới công chức, giới công an trị và khiến xảy ra xu hướng khó cưỡng lại là một bộ phận trong giới này phải “ra đi tìm đường cứu thân”, đồng thời phác ra triển vọng không chỉ công chức, công an cấp xã, mà sắp tới còn cả công chức, công an cấp quận huyện, cấp tỉnh thành và cả cấp bộ có thể rơi vào tình trạng “bán thất nghiệp”, “thu không đủ chi” và do đó có thể kéo nhau xin nghỉ việc.

Tuy nhiên, tương lai giới công an trị có thể được đi xuất khẩu lao động là khá ngặt nghèo. Trường hợp trưởng công an xã Thiên Lộc Lê Anh Thắng đi xuất khẩu lao động được cho là một may mắn hiếm có.

Bởi vào năm 2017, nhiều thị trường lao động truyền thống của Việt Nam như Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia đã chính thức đóng cửa và trả lại lao động cho Việt Nam.

Con số lao động Việt Nam dôi dư hiện thời mà không thể xuất khẩu lao động lên đến hàng triệu người.Thiền Lâm
Cali Today

'Lợi ích nhóm' nằm trong Luật Đất đai


Mới đây Bộ Tài nguyên và môi trường lại có ý định sửa đổi Luật Đất đai, do những bất cập của nó chỉ sau 4 năm thi hành

Luật Đất đai là một trong những đạo luật có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến đời sống của người dân, nhất là nông dân và là một đạo luật mà bóng dáng của các nhóm lợi ích hiện hình rõ nhất.

Hơn 80% đơn khiếu kiện của người dân gửi lên các cơ quan Trung ương là khiếu kiện liên quan đến đất đai. Dù Luật Đất đai đã được sửa đổi nhiều lần theo hướng tiệm cận với cơ chế thị trường, nhưng tình trạng khiếu kiện không những không giảm mà còn có xu hướng gia tăng.
Mới đây Bộ Tài nguyên và Môi trường lại có ý định sửa đổi Luật Đất đai, do những bất cập của nó chỉ sau 4 năm thi hành. Tuy nhiên, sự bất cập dưới cái nhìn của nông dân rất khác với sự bất cập dưới cái nhìn của những người soạn thảo. Phạm vi bài này chỉ nói về vấn đề Nhà nước thu hồi đất. Vì phần lớn các khiếu kiện về đất đai đều liên quan đến các chính sách đền bù giải tỏa khi thu hồi đất, cho nên có thể nói đây là một trong những vấn đề mấu chốt cần được mổ xẻ.
Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng và an ninh theo điều 61 Luật Đất đai không khiến ai thắc mắc. Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (điều 64), do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người (điều 65) cũng không có vấn đề gì lớn. Nhưng thu hồi đất để “phát triển kinh tế-xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng” quy định tại điều 62 thì có vấn đề nghiêm trọng. Việc thu hồi đất quy định tại điều này áp dụng cho các dự án quan trọng do Quốc Hội quyết định chủ trương đầu tư, các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư và các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận. Đây là điều khoản mơ hồ nhất và dễ bị lợi dụng nhất của Luật Đất đai. Vì những lý do sau:
Thứ nhất, khái niệm “phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng” không có nội hàm được xác định, có nghĩa là các trường hợp Nhà nước thu hồi đất là quá rộng. Đối với các dự án quan trọng do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư hay các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư còn có những giới hạn có thể hiểu được, nhưng đối với các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận thì được mở rộng… "vô biên", trong đó có cả các dự án khu đô thị mới, dự án khu dân cư nông thôn, dự án chế biến nông, lâm, thủy, hải sản…, không phân biệt đó là dự án của tư nhân hay nhà nước.
Thứ hai, với phạm vi thu hồi đất được mở rộng vô hạn độ như vậy, trong cơ chế dân chủ nhất nguyên về chính trị ở nước ta, bất cứ một “đại gia” nào muốn đẩy nông dân ra khỏi ruộng vườn của họ để lấy đất làm dự án, chỉ cần thuyết phục hay mua chuộc được Bí thư hay Chủ tịch tỉnh thì đều có thể dễ dàng lấy được sự chấp thuận của Hội đồng nhân dân.
Nói ra thực tế này chúng tôi hoàn toàn không có ý coi thường các vị Bí thư hay Chủ tịch các tỉnh, vì rất nhiều Bí thư và Chủ tịch tỉnh một lòng vì dân vì nước. Điều chúng tôi muốn nói là một điều luật như điều luật trên đang dễ dàng tạo điều kiện cho người xấu làm việc xấu và rất có thể “chuyển hóa” một người tốt thành một người xấu, trong khi mục đích tối thượng của luật pháp là ngăn chặn người xấu không làm việc xấu. Tình trạng “chạy dự án” rồi sử dụng lực lượng cưỡng chế của chính quyền để lấy đất của nông dân mà chúng ta thường nghe nói, phần lớn được điều luật này tiếp tay, dung túng.
Lẽ ra, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước chỉ nên thu hồi đất dành cho các công trình quốc phòng – an ninh, cho các dự án công cộng và hoạt động công ích, cho các công trình trọng điểm làm đầu tàu thúc đẩy phát triển kinh tế với mức đền bù thỏa đáng cho người dân theo giá thị trường, còn mọi dự án kinh tế - xã hội của mọi thành phần kinh tế đều thực hiện theo nguyên tắc của thị trường, tức là chủ đầu tư muốn có đất để làm dự án thì phải thỏa thuận với người sử dụng đất để được chuyển nhượng một cách sòng phẳng. Ai dám bảo người làm vườn làm ruộng không “vì lợi ích quốc gia, công cộng”?
Còn nhớ, trước khi Quốc hội thông qua Luật Đất đai 2013, đã có một cuộc vận động lấy ý kiến với quy mô chưa từng thấy với gần 7 triệu ý kiến đóng góp vào dự Luật. Rất nhiều ý kiến, cả trong dân và tại diễn đàn Quốc Hội, đã đề nghị thu hẹp phạm vi Nhà nước thu hồi đất quy định tại điều luật này, nhưng Ban soạn thảo chỉ tiếp thu một cách hời hợt bằng cách đảo qua đảo lại chứ nhất định không chịu thu hẹp. Và điều lạ lùng là cuối năm vừa rồi, Bộ Tài nguyên và môi trường khi đưa ra thảo luận những đề xuất tiếp tục sửa đổi Luật Đất đai thì phạm vi Nhà nước thu hồi đất theo điều 62 này không những không được đề nghị thu hẹp mà còn đề nghị tiếp tục mở rộng.
Xin nói thẳng, không chỉ là đơn khiếu kiện chiếm 80%, mà điều 62 của Luật Đất đai đang vấy máu. Chúng ta đã nghe nhiều trường hợp người dân không chấp nhận rời khỏi ruộng vườn đã phản ứng bằng bạo lực với lực lượng cưỡng chế, máu của dân và máu của đồng bào làm nhiệm vụ cưỡng chế đều là máu của người vô tội. Nơi này nơi kia ở nông thôn đang bất ổn về chính trị, không phải do sự chi phối của các thế lực thù địch, mà do đất của dân bị Nhà nước thu hồi để giao cho các “đại gia”, tuy có thể đúng Luật nhưng trái đạo lý. Những đảng viên Cộng sản hãy nhớ rằng, Liên minh công nông là nền tảng chính trị của Đảng không chỉ ở nông thôn. Nền tảng chính trị đó mà bị phá vỡ thì Đảng không còn đất sống.
Hoàng Hải Vân – 26/01/2018

Phụ lục: Các comment bên dưới bài báo:

Hồ Quang Huy

05-2-2018 04:59:13

Không những điều 62 ẩn chứa lợi ích nhóm, gây đổ máu cho người dân, gây mất trật tự an ninh, ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia mà điều 69 cũng gây hậu quả tương tự. Khoản D điều 69: “d) Trường hợp người có đất thu hồi không bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi thực hiện. Trường hợp người có đất thu hồi đã được vận động, thuyết phục nhưng không chấp hành việc bàn giao đất cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất và tổ chức thực hiện việc cưỡng chế theo quy định tại Điều 71 của Luật này.” Đáng lẽ ra nếu người dân không chấp hành giao đất thì họ phải có quyền khởi kiện ra tòa. Tòa mới có thẩm quyền quyết định việc thu hồi đất có hợp pháp hay không chứ không phải chính quyền. Khi họ không giao đất tức là họ cho rằng chính quyền làm chưa đúng, cũng có nghĩa giữa 2 bên có tranh chấp thì tòa án là bên thứ 3 có thẩm quyền quyết định ai đúng, ai sai. Điều 69 này đã cho phép chính quyền dùng sức mạnh để giải quyết tranh chấp là bất chấp công lý, thiếu nhân văn, nhân đạo.
  • Nguyen Linh Gia

28-1-2018 08:32:59

Bài viết này rất hay, nói nên thực trạng của vấn đề nổi cộm hiện nay, những bất cập của luật đất đai để đa số các địa phương hiện nay đang lợi dụng câu kết với doanh nghiệp chiếm đất, phải nói là cướp đất của nông dân thì đúng hơn. Cứ đà này khoảng mươi năm nữa khi đó xã hội ta lại ở tình trạng như những năm trước khi cải cách ruộng đất, sự phân hoá giai cấp sẽ bộc lộ, những kẻ có tiền nhiều đất và đa số tầng lớp nông dân lại tay trắng. Và khi đó mâu thuẫn giai cấp lại gia tăng, xh hội lại bất ổn và không biết là hạnh phúc ấm no của nhân dân ở đâu và cái vòng luẩn quẩn của sự rối loạn xã hội thật đau lòng cho thế hệ mai sau.

Mai Văn Vĩ

27-1-2018 11:19:30

Bài viết này "chọc đúng tim đen" của nhóm lợi ích và chính quyền địa phương. Việc trao quá nhiều quyền lực cho chính quyền bằng luật, nhất là luật đất đai đã và đang gây ra các đám lửa đây đó trong xã hội. Rất nhiều đại gia, tập đoàn kinh doanh bất động sản và các lĩnh vực có liên quan đến thu hồi đất bỗng chốc trở nên giàu có nứt đố đổ vách là nhờ... cướp đất của dân với giá rẻ mạt do chính quyền hỗ trợ bằng quy hoạch. Họ có tên, được Forbes xếp hạng vào hàng tỷ phú đô la không phải đến từ sáng tạo, từ công nghệ sản xuất mà từ "cạp đất" mà ăn! Thặng dư giá trị quá lớn, quá khổng lồ bởi việc làm mất lòng dân nếu không muốn nói là bất lương này... dư thừa để mua các quan chức hám lợi. Đất nước không thể yên bình, xã hội không thể nằm bẹp như một con giun bị dày xéo mãi như vậy! Nước ta đang tiến sâu, bước dài trên con đường của nền kinh tế thị trường thì giai đoạn quá độ với hình thức "quyền sử dụng đất" đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của nó. Hầu hết người dân đều muốn có "quyền sở hữu đất" như các nước. Dân muốn có nó nhưng chính quyền lại không muốn là phi lý... khi nói "chính quyền là của dân, vì dân và do dân mà ra" hoặc lấy lợi ích của người dân làm trọng chứ không phải "tiền" hay lợi ích là trên hết. "Dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc" luôn là tiêu chí cao cả cho bất cứ một thể chế nào. Nó hoàn toàn đối kháng với những cái bất cập, những ý định trao cho các quan chức đảng viên, các chính quyền địa phương cái quyền lấy đi một phần cốt lõi của khái niệm này! Quốc hội phải là nơi thể hiện ý chí của toàn dân là đúng đắn, chứ không nên là nơi thể hiện chỉ riêng cho chính sách của chính phủ. Nếu hai nơi này là một, luôn nhất trí giống nhau như đúc (!) thì đất nước ta sẽ đi đâu... về đâu khi trong chính phủ vẫn còn sót những quan chức cao cấp có tâm tư giống như các ông đứng trước vành móng ngựa được cải tiến lại tương tự như cái quầy quán bar vừa qua?

Dân

27-1-2018 08:36:53

Dự thảo Luật cạnh tranh, lợi ích nhóm có trong QH không, khi dự thảo lần 3 xóa tính ưu việt của dự thảo lần 1? Ở lần 1, điều 3 khoản 6: "6. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng."; Và điều 35 về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khoản 6, có tham chiếu: "6. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.". Sang dự thảo lần 3: "6. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác". Và điều 46 "các hành vi cạnh tranh không lành mạnh" đã loại bỏ luôn, và khoản 6 chỉ ghi: "6. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại các Luật khác". Cần loại bỏ lợi ích nhóm ngay trong QH làm luật. Họ là ai, có quay lại tính ưu việt không?

Hoàng Huy

26-1-2018 11:37:21

Không ngờ bây giờ vẫn còn có bài viết như thế này. Quá đúng. Nhưng liệu có sửa được luật không.

Nguyễn Quốc Hội

26-1-2018 10:10:45

Có sự hiểu sai nghiêm trọng của người soạn thảo luật ĐẤT ĐAI về 2 vấn đề lớn: 1- Quyền của cơ quan công quyền trong việc định đoạt sở hữu đất đai, 2- chủ quyền và quyền lợi của người dân về đất đai. Hai vấn đề này không được bàn luận nghiêm túc dựa trên các quan điểm NHÂN VĂN và BẢN CHẤT KINH TẾ cơ bản của CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, các quan điểm cơ bản của Đảng CS về DÂN SINH, DÂN QUYỀN, DÂN CHỦ và vận dụng đúng các tiêu chí hợp lý của HIẾN PHÁP đã và đang có hiệu lưc ĐỂ bảo đảm rằng chỉ có một cách hiểu và giải thích Luật, NÊN người soạn thảo soạn ra Luật với nội dung không cụ thể, không chính xác, mơ hồ... tạo điều kiện cho người có quyền thực thi diễn giải tùy tiện theo lợi ích mà họ có thể có được, đó chính là lỗ hổng pháp lý để THAM NHŨNG từ gốc, từ cơ sở để đề ra CHÍNH SÁCH, tao ra tiền đề của cái gọi là ĐÚNG QUY TRÌNH mà thực chất chỉ để bảo vệ cái sai trong thực thi đã bị diễn giải chủ quan của kẻ cơ hội , mà người chịu thiệt luôn là dân.

Đỗ Khuyến

26-1-2018 12:37:30

Bài viết rất hay, rất đúng và trúng. Qua đây mới thấy rằng việc lấy ý kiến quần chúng nhân dân trong việc sửa đổi luật nói chung và luật đất đai nói riêng cũng chỉ là hình thức. Ban soạn thảo đã bất chấp ý kiến của đông đảo nhân dân và cả Quốc hội thông qua cũng làm một cách hời hợt.

Ngô Văn

26-1-2018 11:09:30

Trân trọng cám ơn tác giả vi nhận định thẳng thắn, xác đáng trong bài báo. Cắt bỏ quy định vì lợi ích nhóm này chắc chắn giúp giải tỏa bất công, bất ổn xã hội.

Nước cờ chiến lược Vũ ‘Nhôm’ và Hội nghị Trung ương 7


Phan Văn Anh Vũ. (Photo: VnExpress)

Vụ khởi tố và tống giam một sỹ quan tình báo cấp tướng của Tổng cục V Bộ Công an vào ngày 17/4/2018 rất có thể chỉ là bước khởi đầu, hoặc là “giai đoạn 1” của một trận công kích đến những cấp cao hơn nữa của Tổng cục Tình báo này trong thời gian tới.

Vào những ngày này, dư luận đang sôi sục với dự đoán sẽ có ít nhất 2 thứ trưởng Bộ Công an phải bị liên đới trách nhiệm, thậm chí cả trách nhiệm hình sự, ở “giai đoạn 2” của “đại án kinh tế - chính trị Vũ “Nhôm””.

Binh chủng hợp thành”

Có lẽ “rút kinh nghiệm sâu sắc” từ vụ Trịnh Xuân Thanh mà có vẻ chẳng phăng ra được đầu mối nào đã giúp Thanh đào tẩu ra nước ngoài ngay trước mũi “ngành công an Việt Nam giỏi nhất thế giới”, Tổng Bí thư Trọng đã chỉ đạo chiến dịch bắt và khai thác Vũ “Nhôm” - Thượng tá tình báo công an Phan Văn Anh Vũ một cách “làm việc gì ra việc đó” - như một lời khen dân dã của ông Trọng dành cho cơ quan Ủy ban Kiểm tra Đảng Trung ương.

Song một cơ quan khác mà ông Trọng không công khai khen ngợi nhưng lại có vẻ chiếm lĩnh vai trò rất lớn trong chiến dịch bắt và khai thác Vũ “Nhôm”: Tổng cục 2, tức Tổng cục Tình báo Bộ Quốc phòng.

Mặc dù từ lâu nay đã được xem là “thanh kiếm và lá chắn của Đảng”, nhưng từ khoảng giữa năm 2016 đến nay, Bộ Công an dường như đã phải nhường lại hình ảnh “thanh kiếm” cho những đồng nghiệp bên quân đội.

Sau khi Thượng tá tình báo công an Phan Văn Anh Vũ bị bắt và dẫn độ từ cửa khẩu Singapore - Malaysia về Việt Nam vào đầu tháng Giêng năm 2018, dư luận và báo chí sôi trào. Nhưng trong suốt một thời gian sau đó, mọi tin tức về vấn đề “chính trị nội bộ” của Vũ “Nhôm” đã bặt tăm, có chăng chỉ là vài ba thông tin về Vũ “Nhôm” dính líu sâu với nhiều nhà công sản và dự án bất động sản ở Đà Nẵng, với Ngân hàng Đông Á ở Sài Gòn, và bị cáo buộc tội danh “trốn thuế” và “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”…

Trước tết nguyên đán 2018 và lồng trong bầu không khi xử đại án Đinh La Thăng - Trịnh Xuân Thanh, những tưởng vụ Vũ “Nhôm” đã có thông tin mới và đã xảy ra bắt bớ những quan chức liên quan đến Vũ ‘Nhôm” ngay trước tết. Nhưng tất cả vẫn lắng bặt.

Sau tết nguyên đán 2018, “vụ án” đầu tiên và thuộc loại “đại án” hóa ra lại là vụ việc mà nhiều người tưởng như đã chìm lắng hoặc chìm xuồng: “Mobifone mua AVG”, với phạm vi liên đới trách nhiệm thuộc về nhiều bộ ngành như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Công an, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Văn phòng chính phủ. Trong khi đó, vụ Vũ “Nhôm” vẫn không thấy tăm hơi gì. Thậm chí liên quan đến đại án Trần Phương Bình ở Ngân hàng Đông Á, người ta còn đặt dấu hỏi vì sao cho tới thời điểm đó vẫn chưa khởi tố Vũ “Nhôm” trong vụ án này, dù hành vi chiếm đoạt tài sản của Vũ “Nhôm” tại ngân hàng Đông Á là đã rõ.

Còn giờ đây, đã rõ là Nguyễn Phú Trọng, và ít nhất một người tham mưu giấu mặt đầy sâu hiểm bên cạnh ông Trọng, đã tính toán một nước cờ vừa chiến thuật vừa mang tính chiến lược để “không cho chúng nó thoát”.

Việc Bộ Công an khởi tố, tống giam và câu lưu 7 quan chức vào ngày 17/4/2018, trong đó có những cái tên cộm cán như Phan Hữu Tuấn, cựu Phó Tổng cục trưởng Tổng cục tình báo Bộ Công an đã nghỉ hưu, Trần Văn Minh - cựu Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (2006-2011), Văn Hữu Chiến - cựu Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng (2011-2014)… cho thấy trong quan niệm và chủ trương của ông Trọng, vụ Vũ “Nhôm” chính là một đại án, không chỉ đại án về kinh tế mà còn về an ninh quốc gia.

Về mặt tốc độ, khác biệt phần nào với vụ bắt và xử án cựu ủy viên bộ chính trị Đinh La Thăng, nước đi của ông Trọng trong vụ Vũ “Nhôm” không quá thần tốc mà có thể bứt qua những công đoạn của tố tụng hình sự, mà có thể mang đặc thù “không cần nhanh nhưng phải chắc”. Các bị can bị khởi tố không phải chỉ cùng một cơ quan mà nhiều hơn hai cơ quan. Nhưng ấn tượng nhất là ngọn roi của ông Trọng đã quất thẳng vào ưng cánh tình báo công an.
Một chiến dịch mang sắc tố “binh chủng hợp thành” - như một thuật ngữ của ngành quân sự Việt Nam.

Có đảo lộn “tứ trụ” tại Hội nghị 7?

Chưa biết với tính chất xen cài cả kinh tế và an ninh như trên, vụ án Vũ “Nhôm” mà chắc chắn sẽ đưa ra xét xử có được chia thành hai phiên tòa - một xử những tội danh về kinh tế như “trốn thuế”, “lợi dụng chức vụ, quyền hạn…” hay “cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng”; và một sẽ được xét xử riêng với tội danh “cố ý làm lộ bí mật nhà nước”, hay hai phần này sẽ được gộp chung làm một.
Nhưng vụ bắt tướng tình báo Phan Hữu Tuấn - sếp của Thượng tá Phan Văn Anh Vũ - xảy ra trong bối cảnh ông Trọng đang cầm chịch để thông qua và triển khai Đề án 106 của Đảng ủy công an Trung ương về “cải tổ” ngành công an.

Về tính quy trình, khác nhiều với vụ Trịnh Xuân Thanh, vụ bắt và khai thác Vũ “Nhôm” đang có nét giống với “quy trình Đinh La Thăng”: sau khi bị loại khỏi Bộ Chính trị vào tháng Năm năm 2017, Đinh La Thăng được bố trí về Ban Kinh tế Trung ương và tưởng như đã “hạ cánh an toàn”. Nhưng từ tháng Tám năm 2017 trở đi, một chiến dịch bắt quan chức của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã được xúc tiến nhanh chóng. Chẳng bao lâu sau, vào tháng Mười Hai năm 2017, Đinh La Thăng chính thức chịu chung số phận với những quan chức dầu khí đã phải tra tay vào còng.

Vũ “Nhôm” không chỉ là tâm điểm kinh tế, tập trung nhiều mối quan hệ làm ăn phi pháp với các quan chức khác, mà còn là một tâm điểm chính trị. Khởi nguồn từ Vũ “Nhôm” và khai thác tối đa nhân vật này, dường như ông Trọng đang thành công trong chiến dịch ‘truy ngược” lên các quan chức cấp cao hơn, kể cả cấp ủy viên bộ chính trị. Trong khi ở vụ Trịnh Xuân Thanh, cho đến giờ vẫn chẳng thấy ông Trọng nói năng hay tự hào báo cáo về kết quả “đã phát hiện thế lực tổ chức cho Trịnh Xuân Thanh bỏ trốn ra nước ngoài”.

Vụ bắt tướng tình báo Phan Hữu Tuấn cũng xảy ra trước Hội nghị Trung ương 7 của đảng cầm quyền - một hội nghị rất có thể sẽ đặc trưng và đặc tả về nhân sự, hoặc là sự đổi thay về nhân sự rất cao cấp.

Đúng vào thời gian này, một vị trí rất cao cấp là Trần Đại Quang - Chủ tịch nước - lại… đi chữa bệnh ở Nhật Bản.

Mặc dù vẫn không có thông tin chính thức nào từ hệ thống tuyên giáo Đảng hay từ Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe Trung ương, nhiều dư luận vẫn cho rằng ông Quang đã sang Nhật chữa bệnh từ đầu tháng Tư năm 2018.

Vào năm ngoái, ông Trần Đại Quang cũng đã có một lần “biến mất” khiến không chỉ dư luận trong nước xôn xao mà cả báo chí quốc tế cũng phải đặt dấu hỏi.

Cuối tháng Bảy năm 2017, trùng với sự kiện “bắt cóc Trịnh Xuân Thanh” theo cách gọi của Nhà nước Đức, hoặc “Trịnh Xuân Thanh tự nguyện về nước đầu thú” theo lối tuyên giáo của Bộ Công an, ông Trần Đại Quang đã “biến mất” đến gần một tháng, và chỉ xuất hiện trở lại vào cuối tháng Tám năm 2017 với gương mặt phờ phạc.

Trong thời gian Trần Đại Quang vắng mặt tại Phủ chủ tịch, một blogger nắm nhiều tin tức nội bộ thậm chí còn đòi hỏi ông Quang cần ‘bàn giao quyền lực” cho người khác. Một dấu ấn khác là khác hẳn với hai vụ “tau khỏe mà có chi mô” của Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh vào cuối năm 2014 và vụ “tướng chữa bệnh” Phùng Quang Thanh vào giữa năm 2015, trong vụ Trần Đại Quang đi chữa bệnh ở Nhật bản vào năm 2017 đã hoàn toàn không có xác nhận hay lời động viên an ủi nào của Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe Trung ương.

Ở vào lần thứ hai “biến mất” của ông Trần Đại Quang, lại đang xuất hiện những dư luận và đồn đoán về tình trạng sức khỏe “khó hồi phục” của ông, và về những gương mặt nào có thể đảm nhiệm chức vụ chủ tịch nước nếu ông Quang “nghỉ giữa chừng”.

Trong khi đó, chủ trương “nhất thể hóa” của đảng cầm quyền vẫn tiếp tục triển khai và triển khai ngày càng nhanh, bắt đầu từ Quảng Ninh - “cái nôi cách mạng” của trưởng ban tổ chức hiện thời là Phạm Minh Chính - đang lan đến một số tỉnh thành khác. Ở nhiều nơi, hai chức danh bí thư và chủ tịch ủy ban nhân dân cấp quận huyện đã được nhập làm một, thậm chí còn đặt cả vấn đề nhập “3 thành 1”, tức cả chức chủ tịch hội đồng nhân dân.

Cũng trong bối cảnh đó, thông tin sốt nóng về việc Quốc hội Trung Quốc đã gần như tuyệt đối thông qua Hiến pháp không giới hạn nhiệm kỳ chủ tịch nước của Tập Cận Bình hẳn đã có tác động như một sự gợi ý đến chính trường Việt Nam, hé ra khả năng “Chủ tịch nước kiêm Tổng Bí thư” trong tương lai không quá xa.Phạm Chí Dũng (VOA)